Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại

Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại
(Trường hợp Hội Gióng)

Các chính sách về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO và Quá trình toàn cầu hóa.

I.Các chính sách về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO
Văn hóa thường được phân chia thành hai phương diện đối lập nhau: Phương tây đối lập với không phương Tây, nam đối lập với nữ, tinh hoa đối lập với dân gian, hay vật thể đối lập với phi vật thể; trong mỗi trường hợp như vậy thì yếu tố trước bao giờ cũng được trọng vọng hơn yếu tố sau. Đặc biệt là với trào lưu hiện đại hóa và sự phát triển của nền văn minh phương tây, các nền văn hóa phương tây thường được xem là hợp thời hơn, có giá trị hơn, và đẳng cấp hơn những nền văn hóa không phải là phương Tây - những nền văn hóa vốn không hợp thời hay là không đẳng cấp bằng (thuộc tầng lớp xã hội thấp hơn). Quá trình toàn cầu hóa diễn ra ở các nền văn hóa châu Âu và châu Mỹ đã dẫn đến sự khác biệt về văn hóa. Những nền văn hóa không phải là phương Tây không thể mở rộng được tầm ảnh hưởng như các nền văn hóa phương Tây.

Tương tự, những người có quan điểm bình quyền đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng xét về góc độ văn hóa thì nữ giới không được trọng vọng và tôn trọng bằng nam giới. Các nhà phê bình văn hóa đã đưa ra lưu ý rằng văn hóa dân gian có nhiều lúc đã bị công chúng cho là cổ hủ lạc hậu và đáng bị đi vào quên lãng.

Di sản văn hóa phi vật thể cũng bị coi là kém quan trọng hơn di sản văn hóa vật thể. Mặc dù UNESCO đã thông qua “Công ước bảo vệ các di sản thiên nhiên và di sản văn hóa” vào năm 1972, tuy nhiên phạm vi về di sản văn hóa được quy định trong Công ước chỉ giới hạn ở những di sản văn hóa vật thể, chẳng hạn như Kim tự tháp ở Ai Cập hay Vạn lý trường thành ở Trung Quốc. Cho đến 31 năm sau, năm 2003, một công ước về di sản văn hóa phi vật thể mới được thông qua. Điều này cho thấy sự phân biệt đối xử với thể loại văn hóa phi vật thể. Sự không công bằng thể hiện trong sự phân biệt đối xử nói trên ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Sự phát triển trong các lĩnh vực như: nghiên cứu văn hóa, nhân chủng học, văn hóa dân gian, và những nghiên cứu về giống đã cảnh báo chúng ta về việc đối xử với các phương diện văn hóa đối lập một cách không công bằng đã tạo ra hệ thống cấp bậc về văn hóa. Những nghiên cứu trên cũng cho thấy yếu tố văn hóa là quan trọng và có ý nghĩa trên mọi phương diện cuộc sống. “Tuyên bố toàn cầu về tính đa dạng của văn hóa” của UNESCO (năm 2001) có chung quan điểm với nguyên tắc này. Sau công ước năm 1972 về việc bảo vệ các di sản văn hóa thế giới, nhiều nước thành viên của UNESCO đã kêu gọi xây dựng hệ thống bảo vệ di sản văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian. Vào năm 1989, Đại hội đồng của UNESCO cuối cùng đã thông qua “Nghị quyết về việc bảo vệ di sản văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian”, Đại hội cũng đưa ra đề xuất rằng các nước thành viên nên thực hiện chương trình tập huấn về công tác bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể, phải lập danh mục các di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời thực hiện một loạt các biện pháp bảo vệ cần thiết khác. Tuy nhiên, Nghị quyết năm 1989 có những hạn chế nhất định đối với công tác bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể nên UNESCO buộc phải thông qua một trương trình bảo vệ dành cho các kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền miệng của nhân loại vào năm 1989. Theo chương trình này, chúng ta bắt đầu thực hiện nhiệm vụ bình chọn các di sản văn hóa phi vật thể. Cứ hai năm một lần bình chọn, và mỗi lần bình chọn một nước thành viên được phép đưa ra một di sản văn hóa phi vật thể. Có một ủy ban được lập nên để đánh giá và thừa nhận các kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể là kiệt tác văn hóa của thế giới. Có 19 di sản văn hóa phi vật thể và truyền miệng được thừa nhận vào năm 2001, 28 di sản được thừa nhận vào năm 2003 và 43 di sản văn hóa được thừa nhận vào năm 2005. Như vậy cho đến năm 2005 có tổng số 90 di sản văn hóa là những kiệt tác văn hóa phi vật thể được công nhận là di sản văn hóa của nhân loại. Việc công bố các di sản văn hóa phi vật thể và truyền miệng đã mang lại rất nhiều lợi ích và thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế chỉ trong một thời gian ngắn. Cho tới năm 2001, UNESCO mới bắt đầu kêu gọi các nước làm thủ tục trình UNESCO để duyệt các di sản văn hóa của nước mình trở thành kiệt tác văn hóa thế giới, nhưng chỉ có 31 nước tham gia. Tuy nhiên cho đến năm 2005 thì có tới 91 nước tham gia (cao gấp ba lần so với năm 2001). Việc ngày càng có nhiều nước tham gia vào chương trình bình chọn kiệt tác di sản văn hóa thế giới khiến cho chúng ta nhận thấy rằng cần phải tăng cường và quảng bá hơn nữa Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Tại phiên bế mạc đại hội đồng lần thứ 32 của UNESCO vào ngày 17 tháng 10 năm 2003, Công ước mới đã được thông qua với đa số phiếu thuận. Theo công ước mới các di sản văn hóa phi vật thể sẽ được bảo vệ dưới sự hợp tác và giám sát chặt chẽ của các nước thành viên.

Mặc dù công ước mới đã được Đại hội đồng của UNESCO thông qua vào ngày 17 tháng 10 năm 2003, tuy nhiên vẫn cần được 30 nước thành viên thông qua thì công ước mới có hiệu lực. Vào ngày 20 tháng 01 năm 2006, Rumania trở thành nước thứ 30 phê chuẩn Công ước. 03 tháng sau, vào ngày 20 tháng 4 năm 2006, Công ước mới đã chính thức có hiệu lực.Tổng giám đốc UNESCO, ông Koichiro Matsuura tỏ ra lo ngại cho các kiệt tác văn hóa phi vật thể của thế giới bởi những mối đe dọa đến loại hình văn hóa này xuất phát từ quá trình hiện đại hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra trên khắp thế giới. Chỉ trong một thời gian ngắn mà nhiều quốc gia đã tham gia phê chuẩn công ước này, điều đó cho thấy nhiều quốc gia nhận thấy rằng các biện pháp bảo vệ quốc tế đối với các di sản văn hóa thế giới là hết sức cần thiết. Cho đến năm 2009, có 116 nước thành viên đã phê chuẩn công ước này.

Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có thể được phân biệt theo nhiều cách khác nhau. Nếu như di sản văn hóa vật thể là những tài sản mang ý nghĩa lịch sử của nhân loại thì di sản văn hóa phi vật thể là những truyền thống văn hóa sống động trong đó chứa đựng phong tục tập quán và những trải nghiệm cuộc sống mà thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Nếu như di sản văn hóa vật thể mang tính cố định và không thay đổi thì di sản văn hóa phi vật thể lại mang tính cơ động, liên tục thay đổi theo thời gian. Nói cách khác, nếu như di sản văn hóa vật thể mang tính tĩnh (không động) thì di sản văn hóa phi vật thể lại rất sống động.

Do đó, nội dung của các công ước để bảo vệ hai loại hình di sản văn hóa này là khác nhau. Các công ước về di sản văn hóa vật thể luôn nhấn mạnh tính xác thực và giá trị của hiện vật lịch sử. Nói cách khác, tiêu chuẩn để đánh giá luôn nhấn mạnh liệu có hay không những kiến trúc mang tính lịch sử hoặc những dấu tích mang nét văn hóa đặc trưng của kỷ nguyên đó hiện diện trên hiện vật. Bởi vì di sản văn hóa phi vật thể liên tục thay đổi theo thời gian, nên việc xác định tính xác thực và những đặc trưng lịch sử của một kỷ nguyên nào đấy là một việc làm gần như không thể thực hiện được.

Hơn nữa, khác với những loại hình văn hóa khác, chúng ta có thể nhận thấy rằng đặc điểm có ý nghĩa quan trọng nhất đối với loại hình di sản văn hóa phi vật thể chính là tính đa dạng và bình đẳng. Trên thực tế ở tất cả các nền văn hóa trên thế giới đều tồn tại rất nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau và mỗi loại hình di sản văn hóa như vậy lại có một ý nghĩa riêng nên người ta không thể nói là di sản văn hóa phi vật thể này có giá trị hơn hay là cao cấp hơn di sản văn háo phi vật thể kia. Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa Công ước 1972 về công tác bảo vệ di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của thế giới và Công ước quốc tế năm 2003 về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Trong Công ước năm 1972, điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ hai có nói rằng, những hạng mục văn hóa được cộng nhận là di sản văn hóa (di sản văn hóa vật thể) của thế giới chỉ khi những di sản đó “có giá trị nổi bật”, tuy nhiên định nghĩa di sản văn hóa phi vật thể trong Công ước quốc tế năm 2003 lại không có những tiêu chuẩn đánh giá như vậy. Thay vào đó, Công ước quốc tế năm 2003 nói rằng cần phải biên soạn một bản thống kê các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm có hai loại: (1) Danh sách các di sản văn hóa phi vật thể cần phải được bảo vệ ngay tức khắc và danh sách các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của nhân loại (Điều 16 và điều 17 Công ước quốc tế năm 2003).

Việc xác định di sản văn hóa vật thể là di sản văn hóa của thế giới dựa trên cơ sở “giá trị nổi bật ” của các di tích lịch sử. Kim tự tháp, Vạn lý trường thành và các công trình kiến trúc lịch sử có giá trị tương tự được ghi nhận là di sản văn hóa vật thể của nhân loại. Chính vì thế mà có những quốc gia có các công trình kiến trúc lịch sử được thừa nhận ở một nền văn minh cao hơn trong khi đó các công trình kiến trúc lịch sử ở các quốc gia khác lại bị xếp ở đẳng cấp thấp hơn. Những sự công nhận thiếu tính công bằng như vậy khiến chúng ta có cảm giác rằng các công trình kiến trúc lịch sử ở một số nước đã bị tước đoạt đi giá trị lịch sử và văn hóa của nó.

Chớ trêu thay, những nền văn hóa không phải là phương Tây lại đang là những nền văn hóa dẫn đầu về số lượng các di sản văn hóa phi vật thể được công nhận, cho đến năm 2005, những nền văn minh này có số lượng di sản được công nhận là 90. Trong số 90 di sản văn hóa được công nhận , có 7 di sản là mang tính đa quốc gia và trong 83 di sản còn lại thì 27 di sản nằm ở khu vực Châu á Thái Bình Dương. Tại một cuộc họp liên chính phủ gần đây diễn ra tại Abu Dhabi (Tháng 11 năm 2009), có 77 di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được ghi vào danh sách những di sản tiêu biểu, trong đó khu vực Châu á Thái Bình Dương chiếm số nhiều nhất.

Có nhiều trường hợp trong đó một di sản văn hóa phi vật thể được công nhận lại chính là biểu tượng của một quốc gia. Đặc biệt, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa khi văn hóa phương Tây đang phát triển nhanh chóng trên khắp thế giới, thì nền văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia đang phải đối mặt với nguy cơ mai một hoặc mất đi vĩnh viễn, vì thế cho nên công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của mỗi quốc gia là điều vô cùng quan trọng. Tất nhiên, các nền văn hóa truyền thống ở các nước phương Tây cùng đang mất dần, văn hóa truyền thống thì lúc nào cũng chỉ bao gồm “những cái cũ” trong khi đó những quốc gia này lại đang trong quá trình phát triển liên tục và họ không bao giờ hạn chế những điều mới mẻ để thích nghi với kỷ nguyên hiện đại.

Ở các nền văn hóa không phải là phương Tây, hiện đang diễn ra một tình trạng là văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị mai một và biến mất, thay vào đó là những diện mạo văn hóa mới mang nguồn gốc phương tây. Ở Triều Tiên nếu như ai đó lựa chọn loại hình nhạc truyền thống pansori (anh hùng ca) để kinh doanh thì lợi nhuận sẽ rất thấp là điều hiển nhiên. Hầu hết giới trẻ Triều Tiên đều thích dòng nhạc opera du nhập từ Phương Tây và những dòng nhạc khác đang thịch hành hơn, tuy nhiên họ vẫn không thể quên được dòng nhạc truyền thống của dân tộc. Chính vì thế chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được lý do tai sao các quốc gia không phải là phương Tây rất thích bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc mình.

Một loạt các chính sách của UNESCO về di sản văn hóa phi vật thể của thế giới đều mang những hàm ý sau. Hàm ý thứ nhất, dựa trên cơ sở di sản văn hóa vật thể được coi là dạng thức cơ bản của văn hóa, chúng ta cũng có thể đi đến nhận thức rằng di sản văn hóa phi vật thể mang giá trị văn hóa là chính nên nó cũng có giá trị và tầm quan trọng đối với nhân loại như di sản văn hóa vật thể. Thứ hai, do việc công nhận các di sản văn hóa vật thể chủ yếu dành cho các nền văn hóa phương Tây nên bây giờ người ta lại quan tâm hơn và thấy hứng thú hơn đối với các di sản văn hóa phi vật thể ở những nền văn hóa không phải là phương Tây.

Giá trị lớn nhất đối với di sản văn hóa phi vật thể trong kỷ nguyên toàn cầu hóa chính là nó đã xua tan đi cách đánh giá thiên vị về văn hóa dành cho một khu vực nhất định nào đấy. Trong kỷ nguyên hiện đại ngày nay, quyền lực và văn hóa đều bị phương Tây hóa, chính vì thế văn hóa phương Tây có ảnh hưởng lớn hơn và thịnh hành trên khắp thế giới. Chẳng hạn như âm nhạc Mỹ, điện ảnh Mỹ, ẩm thực Mỹ không chỉ được tiêu dùng trên đất Mỹ mà còn được tiêu dùng ở khắp mọi nơi trên Thế giới.

Việc tất cả mọi người trên khắp thế giới cùng nghe một dòng nhạc, thưởng thức các điệu múa giống nhau, ăn cùng một loại thức ăn chỉ là nằm trong ý tưởng, và nếu như vậy thì rất buồn. Các nhà nghiên cứu về sinh vật học đã chỉ ra nhu cầu cần thiết đối với sự hiện diện của tất cả các loại sinh vật trên trái đất này để có thể duy trì sự sống cho toàn hành tinh. Nếu như một số loài sinh vật bị tuyệt chủng thì những loài sinh vật khác cũng bị tuyệt chủng và cứ như thế sự sống trên trái đất này sẽ chấm dứt (vì trên thực tế cuộc sống của loài sinh vật này phụ thuộc vào loài sinh vật kia và như vậy tạo thành một vòng tròn tương hỗ khép kín). Tương tự như vậy, dưới sự ảnh hưởng của trào lưu phương Tây hóa, chỉ còn cách bảo vệ và tiếp tục phát huy các bản sắc văn hóa truyền thống cũng như là các di sản văn hóa phi vật thể ở các nền văn hóa không phải là phương Tây chúng ta mới có thể làm sống dậy một số nền văn hóa đang đứng trước nguy cơ biến mất, từ đó góp phần làm cho nền văn hóa của nhân loại thêm đa dạng, điều này là vô cùng cần thiết cho đời sống tinh thần của loài người chúng ta trên trái đất này.

Tôi đã từng đưa ra quan điểm rằng các chính sách về di sản văn hóa phi vật thể ngày nay nên có những định hướng khác với các chính sách về di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa vật thể của thế giới bao gồm các di tích lịch sử được công nhận và nó vẫn giữ được nguyên giá trị văn hóa nổi bật mang tính toàn cầu. Phần lớn các di sản văn hóa phi vật thể này đều thuộc các nền văn hóa phương Tây. Những nơi tập trung nhiều các di sản văn hóa vật thể được công nhận thường được công chúng nhìn nhận và đánh giá một cách tích cự hơn (chẳng hạn như công chúng sẽ cho đó là nơi cá nền văn hóa văn minh hơn và trải qua thời kỳ lịch sử phát triển hơn). Những nơi có ít các di sản văn hóa vật thể được công nhận hơn thì bị cho là kém đẳng cấp hơn về mọi phương diện (văn hóa, văn minh, lịch sử phát triển). Quá trình cạnh tranh để có được những di sản văn hóa vật thể được công nhận đã thể hiện rất rõ điều này. Việc đánh giá vị thế và tầm ảnh hưởng của các nền văn hóa dựa trên nguyên lý thứ bậc về số lượng các di sản văn hóa vật thể được công nhận và xu hướng của các chính sách về di sản văn hóa vật thể vô hình chung tạo cho các xã hội phương Tây quyền bá chủ thế giới.

Các chính sách về văn hóa phi vật thể mới được ban hành đã đem đến cho chúng ta những cách nhìn nhận và đánh giá mới mẻ hơn về các di sản văn hóa. Chúng ta đã thoát ra được lối nhìn nhận cũ (những di sản văn hóa vật thể được cho là có giá trị hơn di sản văn hóa phi vật thể). Đúng hơn là khi đánh giá văn hóa theo thứ bậc giá trị và tiêu chí cạnh tranh trong việc xếp hạng thì tất cả các di sản văn hóa phi vật thể đều có những giá trị riêng của chính nó nên được nhìn nhận một cách toàn diện dưới góc độ văn hóa. Xuất phát từ việc quan điểm của các nhà nghiên cứu đã thay đổi cách nghĩ và đặt các di sản văn hóa phi vật thể vào vị trí xứng đáng đã giúp cho mỗi chúng ta có điều kiện để hiểu hơn về giá trị văn hóa của loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới xứng đáng để chúng ta tìm hiểu, đánh giá đúng mức và đối xử bình đẳng so với loại hình di sản văn hóa vật thể.

II.Toàn cầu hóa di sản văn hóa phi vật thể.
Dựa vào việc ghi các danh sách các di sản văn tiêu biểu của UNESCO, một di sản văn hóa của một quốc gia đã trở thành một phần của di sản văn hóa Thế giới và có thể được trình diễn ở một số quốc gia khác.

Vậy bằng cách nào để di sản văn hóa phi vật thể đạt được vị thế bình đẳng so với di sản văn hóa vật thể và được đánh giá đúng mức trong bối cảnh toàn cầu. Một quan điểm về việc tìm hiểu và đánh giá di sản văn hóa phi vật thể của một nhóm các quốc gia khác cũng cần phải được khuyến khích. Không giống như di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và những người biểu diễn loại hình di sản văn hóa này có thể di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác (di sản văn hóa phi vật thể của địa phương này có thể được biểu diễn ở địa phương khác). Di sản văn hóa của một quốc gia có thể được biểu diễn cho khán giả trên khắp thế giới cùng thưởng thức đồng thời loại hình di sản văn hóa này cũng thể hiện được những đặc trưng của cộng đồng dân cư nơi sản sinh ra và lưu truyền di sản văn hóa đó. Di sản văn hóa phi vật thể có thể được lưu truyền trong hàng trăm năm chứ không muốn nói là hàng nghìn năm bởi chính cộng đồng dân cư ở những địa phương có di sản văn hóa. Qua mỗi thời kỳ lịch sử thì loại hình di sản này có thể được cách điệu đi một ít để phù hợp với thời kỳ lịch sử đó và như thế nó được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành loại hình văn hóa truyền thống sống mãi với thời gian. Theo cách đó các đặc trưng của văn hóa vùng miền được ghi dấu. Vì vậy khi di sản văn hóa phi vật thể của vùng này có thể được giới thiệu sang vùng khác thì người ta sẽ có cách giải thích phù hợp để người dân ở vùng đó có thể hiểu được ý nghĩa của di sản văn hóa đó. Khi biểu diễn một di sản văn hóa phi vật thể nào đấy mà không giới thiệu về ý nghĩa lịch sử cũng như bối cảnh xã hội khi di sản đó ra đời thì coi như chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến công tác tuyên truyền di sản văn hóa đó. Trong thời gian tôi đi dự cuộc hội thảo quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể do Viện nghệ thuật Trung Quốc tổ chức, tôi đã gặp một giáo viên đang giảng dạy tại Khoa âm nhạc dân tộc thuộc Trường đại học California ở Los Angeles. Bà đã kể cho tôi nghe về những trải nghiệm trong quá trình giảng dạy môn pansori, một di sản văn hóa phi vật thể của Triều Tiên. Khi bà bật băng cho sinh viên nghe bản pansori, họ lắng nghe một cách thiếu tập chung và tỏ ra không hề hứng thú gì với loại hình nghệ thuật này. Trong một bài giảng khác, lần đầu tiên bà giới thiệu với sinh viên về nghệ thuật sân khấu của Triều Tiên qua vở kịch Seopyeonje, vở kịch là câu truyện kể về các ca sĩ và nghệ sĩ biểu diễn pansori. Bà đã kể cho sinh viên nghe về các nghệ sĩ biểu diễn và sau đó họ cảm thấy rất thích pansori và tỏ ra cảm phục tài năng của các nghệ sĩ. Nói cách khác, khi chúng ta giới thiệu về loại hình di sản văn hóa phi vật thể mà chỉ giới thiệu về bản thân nghệ thuật đó thì sẽ không có tính truyền cảm cho người nghe. Nhưng khi chúng ta giới thiệu về bối cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử khi di sản văn hóa đó ra đời thì khán giả sẽ hiểu được ý nghĩa của di sản văn hóa từ đó họ sẽ có những cảm nhận và đánh giá đúng mức. Bằng cách này chúng ta có thể thấy rằng di sản văn hóa phi vật thể có thể được sáng tạo và truyền từ người này sang người khác, từ tổ chức này sang tổ chức khác và từ cộng đồng này sang cộng đồng khác.

Chúng tôi cũng xem xét đến khía cạnh quyền tác giả thông qua các di sản văn hóa. Các quyền của những người sáng tạo ra và truyền bá một di sản sản văn hóa phi vật thể phải được tôn trọng. Thường thì khi chúng ta nói đến quyền tác giả, chúng ta thường giới hạn ở một tác phẩm nghệ thuật của một cá nhân. Tuy nhiên di sản văn hóa phi vật thể không phải do một cá nhận tạo nên mà nó chính là sản phẩm của cộng đồng. Vấn đề quyền sở hữu và một số quyền khác đối với di sản văn hóa phi vật thể hiện do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) xem xét quyết định. Tổ chức này đang thảo các điều luật nhằm bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể cũng như là bản sắc văn hóa truyền thống. Những điều luật này cho phép cư dân của một cộng đồng có quyền sở hữu di sản văn hóa phi vật thể của địa phương mình. Luật về bản quyền tác giả không chỉ khẳng định quyền sở hữu của họ đối với di sản văn hóa mà còn bao hàm cả những quyền sử dụng di sản văn hóa không thể chối cãi. WIPO cũng xem xét các vấn đề pháp lý về Luật quốc tế và Luật quốc gia.

III. Trung Tâm văn hóa phi vật thể châu Á – Thái bình dương.
Một bước khác được thực hiện bởi UNESCO nhằm tăng cường sự hiểu biết quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chính là sự cấp phép cho 3 Trung tâm di sản văn hóa phi vật thể ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Vào ngày 21 tháng 10m năm 2009, UNESCO đã công nhận Triều Tiên, Trung Quốc và Nhật Bản là các Trung tâm di sản văn hóa phi vật thể khu vực Châu Á Thái Bình Dương, xếp ba cơ sở này vào hạng mục văn hóa thứ hai (các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu). Đây là bước phát triển tột bậc so với việc chỉ công nhận một Trung tâm văn hóa cho một khu vực. Có sự phân chia về nhiệm vị giữa ba Trung tâm văn hóa phi vật thể này. Trung tâm văn hóa ở Triều Tiên chịu trách nhiệm về lĩnh vực thông tin và mạng lưới truyền thanh, Trung tâm ở Trung Quốc chịu trách nhiệm về công tác giáo dục và đào tạo các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể còn Trung tâm ở Nhật bản thì có nhiệm vụ nghiên cứu.

Việc thành lập ba Trung tâm văn hóa như vậy ở khu vực Châu Á là bước phát triển rất có ý nghĩa đối với công tác bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể. Bởi qua việc thành lập này chúng ta có thể nhận thấy rằng nỗ lực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể phát triển ở nhiều nơi.

So sánh với một số biện pháp bảo vệ di sản văn hóa vật thể khác, các chính sách bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể không có chuẩn mực đơn giản nào. Ví dụ, phương pháp bảo vệ các di sản văn hóa vật thể là các công trình kiến trúc bằng gỗ của Trung Quốc có thể áp dụng cho việc bảo vệ các công trình kiến trúc bằng gỗ ở Triều Tiên. Theo cách đó, công nghệ trùng tu và bảo vệ các di sản văn hóa vật thể của quốc gia này có thể được áp dụng ở bất kỳ quốc gia nào khác trong khu vực.

Hơn nữa, các định nghĩa và khái niệm về văn hóa phi vật thể thường trái ngược nhau, và bản thân mỗi di sản văn hóa phi vật thể có tính biến đổi rất cao. Trong khi đó di sản văn hóa phi vật thể là một sản phẩm về các điều kiện lịch sử, xã hội và văn hóa, nên phương pháp bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương này không thể áp dụng một cách dễ dàng ở địa phương khác được.

Tất nhiên, mặc dù các định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể đã được giải thích trong Công ước năm 2003, khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm nhiều dạng thức khác nhau, và cách hiểu hay nhận thức của mỗi quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể luôn thay đổi là điều cần thiết. Khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể ở một quốc gia bao hàm những yếu tố văn hóa phi vật thể được bảo vệ ở quốc gia đó. Chẳng hạn một số quốc gia có đề cập đến không gian mở (chẳng hạn như chợ và các trung tâm buôn bán) với tư cách là một phần trong di sản văn hóa phi vật thể của họ. Còn một số quốc gia khác lại không có cách nhìn nhận như vậy. Hơn nữa nhận thức của mỗi quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể là hoàn toàn khác nhau vì nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và chính trị của mỗi nước. Trào lưu phương Tây hóa cộng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tác động trực tiếp đến nguy cơ cũng như là quá trình văn hóa truyền thống bị biến mất.

Sự quan tâm của công chúng đối với di sản văn hóa phi vật thể ở mỗi quốc gia, mỗi vùng miền cũng có những cấp độ khác nhau. Thậm chí ngay trong phạm vi khu vực Châu Á– Thái Bình Dương, ở Cộng hòa Triều Tiên, Trung Quốc và Nhật Bản thì sự quan tâm của công chúng dành cho loại hình di sản văn hóa phi vật thể ở cấp độ rất cao trong khi đó một số quốc gia trong khu vực và cả các quốc gia ở những khu vực khác trên thế giới lại dành rất ít sự quan tâm cho loại hình văn hóa này. Triều Tiên, Trung Quốc và Nhật Bản có rất nhiều di sản văn hóa đăng ký vào danh sách các di sản văn hóa tiêu biểu của UNESCO, tuy nhiên một số quốc gia khác ở khu vực Châu á – Thái Bình Dương đã không làm thủ tục trình lên UNESCO để công nhận bất kỳ hạng mục văn hóa nào của mình là di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Thế giới. Ba Trung tâm văn hóa ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã cố gắng phát huy những lợi thế về di sản văn hóa phi vật thể trong khu vực và cố gắng xóa đi những khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực.

Di sản văn hóa phi vật thể đã vượt qua biên giới quốc gia và thích nghi với điều kiện ở các quốc gia khác dễ dàng hơn là các công trình kiến trúc lịch sử. UNESCO luôn khuyến khích các quốc gia làm thủ tục cho các di sản văn hóa của nước mình trình lên UNESCO để những di sản văn hóa có ý nghĩa được ghi vao danh sách những di sản văn hóa tiêu biểu của nhân loại và tổ chức này tỏ ra quan ngại về số lượng các di sản được trình lên vẫn ít. Việc giới thiệu các di sản văn hóa phải xuất phát từ bản thân những quốc gia có di sản văn hóa đó. Quá trình làm thủ tục giới thiệu di sản văn hóa tiêu biểu cho một khu vực phức tạp hơn nhiều so với quá trình làm thủ tục giới thiệu di sản văn hóa cho một quốc gia nên nó đòi hỏi phải có sự phối hợp và cộng tác chặt chẽ giữa các quốc gia trong khu vực. Do mục đích của Trung tâm văn hóa Triều Tiên là xây dựng hệ thống mạng nhằm tăng cường cho công tác bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể nên vai trò của Trung tâm trở nên rất quan trọng. Sự hợp tác quốc tế như vậy góp phần cải thiện mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương rất nhiều.

Khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực rất quan trọng đối với loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Không chỉ bởi lý do là hơn nửa dân số thế giới sống ở khu vực này mà còn bởi đây là khu vực nhạy cảm về chính trị, năng động về kinh tế và phong phú về văn hóa. Chính vì thế ba Tung tâm văn hóa đã được lập nên ở khu vực này (Triều Tiên, Trung Quốc và Nhật Bản) và sự phân chia nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể trong khu vực giữa ba Trung tâm là hoàn toàn phù hợp. Các trung tâm này không chỉ có trách nhiệm đối với các di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia họ mà còn phải quan tâm giúp đỡ các quốc gia khác trong khu vực trong việc bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể. Ngoài ra những phương pháp bảo vệ di sản văn hóa của ba Trung tâm còn có thể được áp dụng cho các khu vực khác trên thế giới.